Xin bấm vào hình để xem

   

Điều Lệ Lâm thời của Đảng Vì Dân

TÀI LIỆU NỘI BỘ

 

Chương I: Đảng Danh  — Đảng Huy — Đảng Kỳ

Điều 1:    Đảng danh chính thức của tổ chức là Đảng Vì Dân Việt Nam, gọi ngắn gọn là Đảng Vì Dân, viết và gọi vắn tắt là ĐVD.

Tên Anh ngữ của Đảng Vì Dân được gọi là Vietnam Populist Party, gọi vắn tắt là VPP hay VNPP. Đảng Vì Dân còn được báo chí gọi là "For the People Party".

Đảng danh nói lên tâm nguyện của tập thể sáng lập viên, xác định Đảng Vì Dân là tổ chức đấu tranh cho các quyền lợi thiết thực của nhân dân.

Điều 2:    Đảng Huy là khung hình tròn màu xanh da trời, ở giữa là hình một hoa Mai vàng, tiếp hợp bên trên một khung hình chữ nhật cùng màu xanh có tên Đảng Vì Dân màu trắng.

Hoa Mai vàng tượng trưng cho mùa Xuân, sự trong sáng, may mắn và hạnh phúc. Khung tròn tượng trưng cho nghĩa đồng bào. Khung chữ nhật tượng trưng cho sự bền vững. Màu xanh da trời biểu trưng màu của lá cờ gìn giữ hòa bình thế giới.

Ý nghĩa của hoa Mai năm cánh là: Dân tộc, Dân chủ, Dân quyền, Dân sinh, Dân trí -- những mục tiêu lớn được Đảng Vì Dân đặc biệt quan tâm.

Đảng Huy được sử dụng trong các văn kiện của Đảng và các tài liệu tuyên vận.

Điều 3:    Đảng Kỳ hình chữ nhật màu xanh da trời, bề cao bằng 2/3 bề ngang, ở giữa có hình bản đồ nước Việt Nam màu vàng sậm. Kích thước của hình bản đồ bằng 3/5 chiều cao của lá cờ, phía trên có hàng chữ "Hoà bình • Tự Do • Ấm No • Tiến Bộ" màu trắng, thiết kế theo chiều vòng cung bao quanh phía trên hình bản đồ, phía dưới có hàng chữ "Đảng Vì Dân" nằm ngang, màu vàng. Trong trường hợp cấp thiết, Đảng kỳ có thể thiết kế đơn giản là hình bản đồ màu vàng trên khung hình chữ nhật mày xanh dương.

Đảng Kỳ được treo hoặc trình bày trong các buổi lễ họp chính thức.

 

Chương II: Mục đích và Nhiệm vụ

Điều 4:    Đảng Vì Dân là đảng đấu tranh cho dân chủ tự do, công bằng xã hội và quyền lợi của nhân dân; đặc biệt là các tầng lớp trẻ, giới lao động nghèo, và thành phần quân nhân, công nhân viên cấp thấp.

Mục tiêu cụ thể của Đảng là tích cực góp phần đấu tranh xóa bỏ độc tài, bất công, tham nhũng và nghèo khó, nhằm tạo điều kiện xây dựng một nước Việt Nam Mới thật sự hòa bình, tự do, ấm no và tiến bộ.

Điều 5:    Nhiệm vụ của Đảng trong giai đoạn dân chủ hóa đất nước là góp phần cùng toàn dân thúc đẩy việc thực hiện cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do toàn quốc, nhằm thiết lập một chính thể dân chủ đa đảng thích hợp cho Việt Nam.

Nhiệm vụ của Đảng trong giai đoạn phát triển đất nước là thực hiện các công tác phục vụ dân sinh và phát triển dân trí, song song với việc tham gia lãnh đạo, điều hành và hậu thuẫn chính phủ, nhằm góp phần phát triển quốc gia và phục hưng dân tộc.

 

Chương III: Tôn Chỉ và Lập Trường

Điều 6:    Tôn Chỉ sinh hoạt của đảng viên Đảng Vì Dân là:

•  Yêu nước thương dân, khiêm cung cầu tiến, và tận tụy trong sạch.

•  Vị tha trong suy nghĩ, ôn hòa trong thái độ, và quyết liệt trong hành động.

•  Hòa đồng trong tập thể, đoàn kết trong việc chung, và đối thoại khi dị biệt.

Điều 7:    Lập trường của Đảng trong giai đoạn cứu nước là:

•  KHÔNG chấp nhận mọi chế độ độc quyền đảng trị.

•  KHÔNG thỏa hiệp với đảng CSVN để chia quyền lãnh đạo đất nước.

•  KHÔNG chấp nhận sự can thiệp bất chính của ngoại bang.

•  KHÔNG cổ võ đấu tranh bạo lực.

•  KHÔNG chủ trương trả thù, báo oán.

 

Chương IV: Chủ Trương và Đường Lối

Điều 8:      Chủ trương của Đảng Vì Dân là:

•   Lấy hoạt động ở Việt Nam làm trọng tâm.

•  “Lấy tình thương hóa giải hận thù” làm phương châm.

•   Lấy sức mạnh nhân dân làm vũ khí.

•  Lấy đấu tranh bất bạo động làm sách lược.

•  Lấy nguyện vọng của nhân dân làm kim chỉ hướng.

Điều 9:    Đường lối của Đảng được đặt trên căn bản Tư tưởng Dân Chủ Nhân Bản và Tinh thần Dân Tộc Tự Quyết.

Dân Chủ Nhân Bản là một quan niệm điều hướng xã hội dân chủ, với mục tiêu cuối cùng của tất cả mọi nỗ lực xây dựng là phải nhằm phục vụ con người, trên căn bản con người là bản thể và cũng là chủ thể của xã hội. Tư tưởng Dân Chủ Nhân Bản đối kháng với chủ trương biến con người thành một công cụ, đi ngược lại với tinh thần nhân quyền và dân quyền.

Dân Tộc Tự Quyết là thái độ khẳng định tinh thần độc lập của nhân dân trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền đất nước và dân tộc Việt Nam, trong toàn bộ tiến trình dân chủ hóa và phát triển xã hội.

Điều 10:  Trong giai đoạn dân chủ hóa xã hội, đường lối hoạt động của Đảng bao gồm hai hướng song hành: 1. phát động các phong trào quần chúng làm sức mạnh thúc đẩy tiến trình thực thi dân chủ đa đảng; 2. nỗ lực phát triển Đảng thành một thực lực có khả năng thích ứng và chủ động trong mọi tình huống chính trị.

Điều 11:  Chủ trương và đường lối hoạt động cứu nước của Đảng được trình bày chi tiết trong bản Cương Lĩnh Cứu Nước. Tổng thể về quan điểm, chủ trương và đường lối của Đảng được trình bày trong bản Đề Cương Việt Nam Mới.

 

Chương V: Cơ Cấu Tổ Chức

Điều 12:  Hoạt động xây dựng, phát triển và đấu tranh của đảng đặt trọng tâm vào các cơ sở quốc nội và các nước lân bang.

Trong giai đoạn hoạt động bí mật ở trong nước, cơ cấu Đảng được tạm thời tổ chức một cách linh động, và tất cả cơ sở hoạt động theo nguyên tắc bí mật, ngăn ô và tự quản.

Điều 13:  Trong giai đoạn hoạt động bí mật, cơ sở Đảng được tổ chức phân quyền theo hệ thống cánh quạt để bảo toàn an ninh cơ sở và vận dụng tối đa hiệu năng hoạt động.

 

Chương VI: Quy Cấp Đảng Viên

Điều 14:  Đảng Viên chính thức là những Đảng viên dự bị hội đủ tiêu chuẩn, đã có quá trình tham gia sinh họat Đảng, được ít nhất hai đảng viên đề nghị kết nạp đảng và được cơ sở trực hệ chính thức tuyên nhận trong một lễ nghi kết nạp.

Điều 15:  Đảng Viên Dự Bị là những cảm tình viên thông hiểu chủ trương, đường lối, Điều lệ Đảng; có quá trình yểm trợ sinh hoạt Đảng; và có ý chí tự chuẩn bị trở thành Đảng viên sau thời gian thử thách.

Điều 16:  Đảng Viên Tự Phát là những cảm tình viên đã đồng ý chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng và tham gia bằng sự tự giác tổ chức hoạt động bí mật ở Việt Nam, hay ở các nước lân bang, do không có điều kiện sinh hoạt một cách chính thức.

Đảng Viên Tự Phát tự nhận lãnh trách nhiệm xây dựng cơ sở, phát triển nhân sự, hoạch định hoạt động một cách độc lập. Khi điều kiện và hoàn cảnh cho phép, Đảng viên Tự phát sẽ được Đảng xem xét để hợp thức hóa vào hệ thống chánh quy.

Điều 17:  Danh xưng gọi nhau giữa các đảng viên Đảng Vì Dân trong thời gian hoạt động bí mật là Anh hoặc Chị, tuỳ theo phái tính của đối tượng, không phân biệt tuổi tác. Danh xưng chính thức sẽ được quyết định trong kỳ Đại Hội Toàn Đảng.

 

Chương VII: Nghi Thức Tuyên Thệ

Điều 18:   Lời tuyên thệ:

Để xứng đáng là một đảng viên Đảng Vì Dân, tôi xin nguyện:

1.  Luôn đặt quyền lợi Tổ quốc lên trên hết.

2.  Luôn gắng chăm lo người nghèo khó, thế cô.

3.  Luôn sống hướng thiện, vị tha và liêm chính.

Trong điều kiện bình thường, Lời Tuyên Thệ sẽ được tân đảng viên đọc lớn trong buổi Lễ Tuyên Thệ do cơ sở tổ chức, theo hình thức và các quy tắc phổ thông.

Ở trong nước, Lễ Tuyên Thệ sẽ được tổ chức bằng một hình thức thích hợp với điều kiện hoạt động bí mật của cơ sở.

Lời Tuyên Thệ này là cam kết tinh thần của đảng viên với tổ chức trong sinh hoạt đấu tranh, và không nhằm thay thế niềm tin hay quy định của các tôn giáo, nếu có sự trùng hợp về từ ngữ.

Điều 19:  Lời Tuyên Thệ đồng thời cũng là Ba Điều Tâm Niệm của toàn thể đảng viên.

Ba Điều Tâm Niệm được toàn bộ đảng viên cơ sở đồng thanh đọc khi khai mạc và bế mạc mỗi buổi họp chính thức.

Toàn bộ đảng viên đồng thời được khuyến khích tự nguyện đọc, hoặc đọc thầm, Ba Điều Tâm Niệm vào mỗi buổi sáng trước mọi sinh hoạt.

 

Chương VIII: Điều Hướng và Điều Hành

Điều 20:  Điều hướng là trách nhiệm lãnh đạo và điều động tổng thể toàn Đảng; bao gồm các công tác hoạch định đường lối, chủ trương, và kế hoạch hoạt động của đảng.

Trong giai đoạn hoạt động bí mật, công tác điều hướng tổng quát hoạt động của Đảng ở trong và ngoài nước được đặt dưới thẩm quyền cao nhất của Ban Lãnh Đạo Trung Ương, gọi ngắn là Ban Lãnh Đạo. Cho đến khi Đảng có thể hoạt động chính thức và công khai ở Việt Nam, thành phần Ban Lãnh Đạo và hệ thống lãnh đạo Đảng được giữ kín.

Đảm trách công tác hành chánh và liên lạc của Ban Lãnh Đạo là Ban Thường Vụ Trung Ương (TW). Các cán bộ Ban Thường Vụ TW có trách nhiệm phối hợp sinh hoạt Đảng theo chỉ thị trực tiếp của Ban Lãnh Đạo.

Điều 21:  Điều hành là trách nhiệm chấp hành của các Cơ sở Trưởng Phân Bộ và Chi Bộ; bao gồm công tác tổ chức và điều hành trực tiếp toàn bộ hoạt động của các cơ sở trực thuộc.

Trong giai đoạn hoạt động bí mật, Cơ sở Trưởng các cấp có trách nhiệm chấp hành chủ trương, đường lối đảng qua sự điều hướng của Ban Lãnh Đạo Trung Ương và Ban Thường Vụ Trung Ương.

 

Chương IX: Cơ Cấu Phân Bộ

Điều 22:  Bộ phận trong nước bao gồm các Phân Bộ độc lập, hoạt động song song dưới sự điều hướng tổng quát của Ban Thường Vụ TW.

Để bảo toàn an ninh cơ sở, các Phân Bộ được tổ chức hoạt động và phát triển hoàn toàn độc lập với nhau; và tuyệt đối không được phép liên lạc hay phối hợp hoạt động hàng ngang trong suốt thời gian hoạt động bí mật, nếu không có lệnh của Ban Lãnh Đạo.

Điều 23:  Phân Bộ là đơn vị mạng lưới của Đảng. Mỗi Phân Bộ mang một danh số riêng, bao gồm các Chi Bộ được tổ chức một cách linh động tùy theo điều kiện thực tế. Sự liên hệ giữa các Chi Bộ trực hệ tùy thuộc vào quyền điều động của Phân Bộ.

Cơ sở Phân Bộ được tổ chức theo quy định tổng quát sau đây: 01 Phân Bộ Trưởng, 01 Phân Bộ Phó, 01 Thư Ký, 01 Thủ Quỹ, 01 Thông Tin. Hình thức cơ cấu và số lượng cán bộ có thể được linh động tùy theo khả năng nhân sự và nhu cầu công tác cụ thể của Phân Bộ.

Phân Bộ Trưởng được điều phối bởi Ban Lãnh Đạo TW. Các trách vụ còn lại của Phân Bộ được đề nghị bởi Phân Bộ Trưởng, và phải có sự chấp thuận của Ban Lãnh Đạo TW.

Điều 24:  Đơn vị Cơ sở căn bản của Đảng là Chi Bộ. Cơ sở Chi Bộ trực thuộc quyền điều động trực tiếp của Phân Bộ.

Cơ sở Chi Bộ được tổ chức theo quy định tổng quát sau đây: 01 Chi Bộ Trưởng, 01 Chi Bộ Phó, 01 Thư Ký, 01 Thủ Quỹ, 01 Thông Tin. Hình thức cơ cấu và số lượng cán bộ có thể được linh động tùy theo khả năng nhân sự và nhu cầu công tác cụ thể của Chi Bộ.

Chi Bộ Trưởng được điều phối bởi Phân Bộ Trưởng. Các trách vụ còn lại của Chi Bộ được đề nghị bởi Chi Bộ Trưởng, và phải có sự chấp thuận của Phân Bộ Trưởng.

 

Chương X: Cơ Cấu Biệt Bộ “X”

Điều 25:  Biệt Bộ “X” là một phân bộ đặc biệt, bao gồm các cơ sở độc lập cấp Chi Bộ, được thành hình bí mật bởi các Đảng Viên Tự Phát. Biệt Bộ “X” không trực thuộc sự điều phối trực tiếp của Ban Thường Vụ TW. 

Các cơ sở thuộc Biệt Bộ “X” được tạm gọi là các Chi Bộ “X”, được thành hình bởi các Đảng viên Tự phát, và phải tự chọn bí số cơ sở. Chi Bộ “X” sinh hoạt hoàn toàn độc lập, tự túc.

Do điều kiện tổ chức và sinh hoạt đặc biệt, Biệt Bộ “X” hoạt động bí mật và phát triển song hành với hệ thống chánh quy, không có bộ phận điều hành trực tiếp. Toàn bộ hoạt động của Biệt Bộ “X” được điều hướng gián tiếp bởi Ban Thường Vụ TW qua các phương tiện truyền thông cơ hữu của DVD. Sự điều hành của Chi Bộ “X” được đặt trên căn bản tự quản của Cơ sở trưởng Chi bộ.

Điều 26:  Khi điều kiện và hoàn cảnh cho phép, toàn bộ hoặc từng phần cơ sở của các Chi Bộ thuộc Biệt Bộ “X” sẽ được xem xét để kết nối và hợp thức hóa vào hệ thống chánh quy.

 

Chương XI: Phân Bộ “H”

Điều 27:  Phân Bộ “H” là bộ phận các cơ sở ở ngoài Việt Nam, phụ trách công tác ngoại vận, cộng đồng vận và yểm trợ quốc nội. Do điều kiện sinh hoạt thực tế, Phân Bộ “H” giữ vai trò đại diện Đảng trong các công tác đối ngoại, bao gồm quốc tế vận và cộng đồng vận.

Điều 28:  Cho đến khi có quyết định chính thức bởi Đại Hội Toàn Đảng lần thứ I, cơ sở đại diện cao nhất và duy nhất của Đảng là Ban Lãnh Đạo TW. Tiếng nói của Ban Thường Vụ TW đồng thời cũng là tiếng nói mang tính đại diện của Ban Lãnh Đạo TW Đảng.

Điều 29:  Mọi lên tiếng của bất kỳ cơ sở trong nước phải có sự xác nhận nội bộ, và phải được công nhận bởi Ban Thường Vụ TW Đảng Vì Dân mới có giá trị. 

 

Chương XII: Chủ Lực, Trợ Lực và Đối Lực

Điều 30:  Chủ lực của Đảng là toàn bộ đảng viên, bao gồm đảng viên chính thức, đảng viên dự bị và đảng viên tự phát. Nhân sự nòng cốt của Đảng là tầng lớp đảng viên tiên phong dấn thân tham gia xây dựng đảng; và các đảng viên có đạo đức cách mạng, ý thức trách nhiệm, tinh thần hy sinh và khả năng tổ chức.

Điều 31:  Trợ lực của Đảng là các thành phần quần chúng tin tưởng vào Đảng, sẵn sàng hậu thuẫn một cách nhiệt tình cho Đảng khi có điều kiện thuận hợp; kể cả những người tiến bộ trong guồng máy đảng và nhà nước CSVN.

Trợ lực của Đảng đồng thời cũng là các đoàn thể bạn, các cơ quan truyền thông, báo chí Việt Ngữ và ngoại quốc; các đoàn thể chính trị, cơ quan công quyền, chính phủ các nước yêu chuộng dân chủ tự do trên thế giới; cùng với các tổ chức thiện nguyện phi chính phủ, hiệp hội nhân quyền quốc tế, v.v… có nhiệt tình yểm trợ tiến trình dân chủ hóa và phát triển Việt Nam.

Điều 32:  Đối lực của Đảng là các thế lực có khuynh hướng đi ngược lại quyền lợi của tổ quốc và nhân dân Việt Nam.

Đối lực của Đảng trong nội bộ dân tộc là bọn phản quốc, phản tiến, độc tài, bạo ngược, tham nhũng và tay sai ngoại bang; là thiểu số bảo thủ, cực đoan trong Chính Trị Bộ đảng CSVN, và các phần tử cửa quyền, tham ô, tàn ác trong bộ máy nhà nước các cấp.

Đối lực của Đảng trong xã hội là tình trạng tàn bạo, tham ô, nghèo đói, dốt nát, lạc hậu; và những cá nhân thiếu ý thức, sống tham lam, ích kỷ, chuyên đầu cơ trục lợi bất chánh.

Đối lực của Đảng trên trường quốc tế là những lực lượng ngoại xâm, thế lực độc tài, tổ chức khủng bố và các thành phần con buôn quốc tế vô nhân đạo.

 

Chương XIII: Học Huấn và Tuyên Vận

Điều 33:  Học Huấn bao gồm Học tập và Huấn luyện. Toàn bộ đảng viên có trách nhiệm học tập thường xuyên và đầy đủ về Tuyên Ngôn, Cương Lĩnh, Điều Lệ và các tài liệu liên quan đến chủ trương, đường lối, hoạt động của Đảng.

Các cở sở có trách nhiệm tổ chức huấn luyện toàn bộ đảng viên trực thuộc về kỹ năng tổ chức, vận động, hoạt động để nâng cao hiệu năng cơ sở.

Đặc biệt, cơ sở Đảng có trách nhiệm huấn luyện đảng viên về các nguyên tắc và kỹ thuật hoạt động bí mật, để bảo toàn an ninh và nâng cao hiệu quả công tác.

Điều 34:  Tuyên vận bao gồm Tuyên truyền và Vận động. Toàn bộ Đảng viên có trách nhiệm sáng tạo và vận dụng mọi cơ hội thuận lợi để tuyên truyền, vận động cho Đảng.

Trọng tâm công tác Tuyên truyền là quảng bá chủ trương, đường lối của Đảng đến với mọi tầng lớp quần chúng.

Trọng tâm công tác vận động là kêu gọi, thuyết phục và gầy dựng niềm tin trong nhân dân, để xây dựng sự yểm trợ, hợp tác đấu tranh cho tổ chức; cũng như cho công tác kết nạp và phát triển cơ sở Đảng.

                 

Chương XIV: Xây Dựng và Bảo Vệ

Điều 35:  Toàn bộ đảng viên có trách nhiệm trong công tác xây dựng và bảo vệ Đảng. Các công tác này nhắm vào hai đối tượng: Nhân sự và Cơ sở.

Nhiệm vụ Xây Dựng Đảng là một hợp trình ba bậc: củng cố, hoàn thiện và phát triển.

Nhiệm vụ Củng Cố Đảng: Đảng viên phải nắm vững chủ trương, đường lối Đảng; tích cực bàn bạc, đóng góp ý kiến, trao đổi kinh nghiệm, và thúc đẩy bổ khuyết những điểm yêu kém của cơ sở ở các cấp.

Nhiệm vụ Hoàn Thiện Đảng: Đảng viên phải quan tâm tham gia và tổ chức công tác Học Huấn, để nâng cao trình độ nhận thức chính trị và kiến thức văn hóa, có sáng kiến và chủ động xây dựng cơ sở vững mạnh, đáp ứng được nhu cầu công tác Đảng.

Nhiệm vụ Phát Triển Đảng: Đảng viên phải quan tâm việc mở rộng cơ sở và địa bàn hoạt động; phải quan tâm tìm kiếm, nhận xét, chọn lựa người để giới thiệu vào Đảng. Các cấp cơ sở phải tổ chức đào tạo đảng viên trực thuộc có khả năng lý luận và thuyết phục.

Điều 36:  Toàn bộ đảng viên có trách nhiệm bảo vệ Đảng trên ba mặt sau đây:

Bảo vệ Danh dự Đảng: Đảng viên phải ý thức rằng danh dự cá nhân gắn liền với danh dự Đảng. Do đó, toàn thể đảng viên phải có tinh thần trách nhiệm và sự cẩn trọng mực thước từ suy nghĩ, lời nói đến việc làm, trong mọi sinh hoạt chung và riêng.

Bảo vệ Sinh Hoạt Đảng: Đảng viên phải luôn luôn bảo vệ tính Thống nhất, Đòan kết, và Xây dựng trong mọi sinh hoạt Đảng. Do đó, toàn thể đảng viên có trách nhiệm phải đề cao cảnh giác trước mọi hiện tượng mang tính chất mâu thuẫn, bè phái, phá hoại trong các sinh hoạt nội bộ, để kịp thời báo động với Cơ sở.

Bảo vệ Cơ Sở Đảng: Đảng viên phải luôn luôn đề cao ý thức bảo mật, xem đây là công tác hàng đầu và thường trực. Do đó, toàn thể đảng viên có trách nhiệm phải lưu ý mọi chỉ dấu khả nghi, các hiện tượng bất thường, và báo cáo kịp thời với các cấp lãnh đạo, chỉ huy trực hệ; phải triệt để tuân thủ nguyên tắc hoạt động bí mật, ngăn ô, tự quản; phải học tập và trao đổi kinh nghiệm thực tế có được từ hoạt động thực tiễn, để đóng góp ý kiến vào việc củng cố và bảo toàn an ninh cơ sở.

 

Chương XV: Quy Chế Sinh Hoạt

Điều 37:  Toàn bộ cơ sở các cấp của Đảng phải họp sinh hoạt tối thiểu là mỗi hai tuần một lần, và cấp thời khi có nhu cầu công tác. Nội dung sinh hoạt phải được lập biên bản, lưu giữ và báo cáo lên cấp bộ lãnh đạo cao hơn khi có yêu cầu.

Điều 38:  Cấp lãnh đạo cơ sở cao nhất, hoặc cán bộ có trách nhiệm cao nhất hiện diện, là người chủ tọa buổi họp. Các cán bộ có trách nhiệm liên quan trực tiếp đến nghị trình có nhiệm vụ thuyết trình và điều phối sinh hoạt trong phạm vi nội dung buổi họp.

Điều 39:  Sinh hoạt của cơ sở các cấp được quy định theo nguyên tắc dân chủ hòa đồng; theo đó, cán bộ các cấp có trách nhiệm chấp hành sự chỉ đạo của cán bộ lãnh đạo, điều hành, song mọi ý kiến xây dựng chánh đáng đều được tôn trọng, và những sự khác biệt được nỗ lực dung hòa để xây dựng sự tương đồng.

Điều 40:  Mọi vấn đề liên quan đến cơ sở và hoạt động phải được thảo luận trong sinh hoạt nội bộ. Đảng nghiêm cấm tình trạng phổ biến các bí mật cơ sở, và tin tức thuộc dạng “thông tin nội bộ” với người ngoài tổ chức.

Điều 41:  Nguyên tắc bầu phiếu của cơ sở là kín và trực tiếp. Trong trường hợp có sự đồng ý của tuyệt đại đa số, cuộc bầu phiếu có thể thay thế bằng hình thức biểu quyết công khai.

 

Chương XVI: Nguyên Tắc Tài Chánh

Điều 42:  Cho đến khi có quy định chính thức, Đảng Liễm được tạm thời thực hiện qua hình thức tự nguyện đóng góp theo khả năng. Đảng khuyến khích các Đảng Viên và Đảng Viên Dự Bị tích cực đóng góp một cách đều đặn để xây dựng sức mạnh tài chánh cho tổ chức.

Điều 43:  Mọi kế hoạch kinh tài hay nhân danh cơ sở để gây quỹ đều phải có sụ bàn bạc chu đáo và quyết định chính thức của cơ sở. Mọi sự chi thu liên quan đến việc kinh tài hay gây quỹ phải được lập biên bản rõ ràng và đầy đủ.

Điều 44:  Cơ sở và cán bộ các cấp có trách nhiệm quản lý ngân quỹ của cơ sở một cách an toàn và minh bạch. Mọi sự chi, thu của cơ sở phải được thông qua bởi tối thiểu là hai (02) cán bộ có trách nhiệm trực tiếp.

Điều 45:  Cơ sở và cán bộ các cấp có trách nhiệm sử dụng một cách hiệu quả và rõ ràng mọi nguồn tài chánh trực thuộc cơ sở; bao gồm ngân quỹ trực thu và các ngân khoản tài trợ bởi trung ương hay các cấp bộ cao hơn.

 

Chương XVII: Quyền Lợi và Trách Nhiệm

Điều 46:  Quyền lợi sinh hoạt của toàn bộ đảng viên chính thức là được Đảng cứu xét trao phó các trách vụ điều hướng hay điều hành cơ sở Đảng.

Các đảng viên có công hoạt động sẽ được cơ sở Đảng ghi nhận, và có thể được cứu xét khen thưởng hoặc tưởng thưởng bằng hình thức thích hợp trước cơ sở hay trước Đảng.

Các đảng viên đồng thời được tương trợ khi bản thân hoặc gia đình lâm phải cảnh khó khăn đặc biệt.

Điều 47:  Toàn thể đảng viên có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh Chủ Trương, Đường Lối, Điều Lệ và Mệnh Lệnh Đảng.

Các đảng viên sinh hoạt thiếu trách nhiệm, không chấp hành đầy đủ sẽ bị cảnh cáo và có thể bị giới hạn trong sinh hoạt và công tác.

Cơ sở trưởng trực hệ có trách nhiệm ghi nhận các trường hợp vi phạm kỷ luật để theo dõi và có biện pháp kỷ luật khi cần thiết.

Điều 48:  Đảng viên có lời tuyên bố hoặc hành động đi ngược lại với chủ trương, đường lối và điều lệ Đảng, là vi phạm kỷ luật Đảng và sẽ bị kỷ luật nội bộ bởi cơ sở trực hệ. Hình thức kỷ luật cao nhất là khai trừ khỏi Đảng.

Điều 49:  Các cơ sở tự phát, tập hợp tự xưng là “cơ sở Đảng Vì Dân” song có lời tuyên bố, hành động hay hoạt động đi ngược lại với mục đích, tôn chỉ, chủ trương, đường lối hay điều lệ của tổ chức, được đương nhiên xem là sự mạo danh Đảng Vì Dân.

 

Chương XVIII: Hiệu Lực và Tu Chính

Điều 50:  Toàn thể Đảng Viên có trách nhiệm theo dõi thường xuyên sự cập nhật của bản Điều Lệ và chấp hành nghiêm chỉnh các điều lệ Đảng được nêu lên ở đây.

Các Cơ Sở Đảng có trách nhiệm nghiên cứu và tổ chức học tập thường xuyên về nội dung bản Điều Lệ Lâm Thời này và các tài liệu tu chính, để trang bị cho các đảng viên một kiến thức vững chắc về chủ trương, đường lối và điều lệ của Đảng.

Điều 51:  Bản Điều Lệ Lâm Thời này bao gồm các điều khoản cần thiết cho việc tổ chức và điều hành một cách hiệu quả các sinh hoạt Đảng trong giai đoạn hoạt động bí mật trong nước. Đảng hoan nghênh các ý kiến xây dựng nhằm hoàn chỉnh Điều Lệ Đảng. Mọi ý kiến tập trung gửi về Văn Phòng Ban Thường Vụ Trung Ương Đảng.

Điều 52:  Nội dung bản Điều Lệ này được cập nhật thường xuyên bởi các quyết định của Ban Lãnh Đạo, để đáp ứng nhu cầu an ninh và tình hình thực tế hoạt động của tổ chức, và có giá trị cho đến khi Bản Điều Lệ Chánh Thức được ban hành.

Điều 53:  Đại Hội lần Thứ Nhất của Đảng sẽ được triệu tập trong điều kiện toàn đảng đã hoạt động công khai. Trước đó, một Ban Soạn Thảo Điều Lệ sẽ được bộ phận lãnh đạo chỉ định để soạn thảo bản Bản Điều Lệ Chánh Thức.

Điều 54:  Bản Điều Lệ Lâm thời thông qua có 18 chương, 54 điều (kể cả điều này) và có hiệu lực kể từ ngày công bố.

 

Công bố ngày 01 tháng 01 năm 2006

Ban Thường Vụ Trung Ương Đảng Vì Dân

 

REV. 20092010

   
© ALLROUNDER